Banner 2

Banner 2

Lukistore

Mỹ phẩm Mothercarelà dòng mỹ phẩm trị liệu và chăm sóc da cao cấp với sự kết hợp của công nghệ sinh học hiện đại cùng những nguồn nguyên liệu chiết xuất từ thiên nhiên giúp chăm sóc bạn dịu nhẹ và an toàn nhất.

Lukistore

Phân phối các sản phẩm chăm sóc làm đẹp thương hiệu Mothercare với số lượng không giới hạn cho khách trên toàn quốc: cam kết chất lượng sản phẩm chính hãng, hiệu quả sử dụng, giá tốt nhất.

Lukistore

Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể và ăn mặc ưa nhìn hơn.

Lukistore

Sữa tắm kích trắng MotherCare – sử dụng như sữa tắm hàng ngày, phảng phất hương thơm nhẹ nhàng bền lâu, giúp da trắng sáng, mềm mại mịn màng.

Lukistore

Ba điều làm nên giá trị một con người : Siêng năng, Tốt bụng,Thành đạt

7 tháng 7, 2013

VIẾT PHÓNG SỰ CẦN CHÚ Ý NHỮNG VẤN ĐỀ GÌ?

1 Như thế nào là bài phóng sự?

Có thể hiểu : Phóng sự là một thể tài báo chí, phản ánh những vấn đề có tính thời sự, có ý nghĩa chính trị xã hội được bạn đọc quan tâm. Phóng sự có thể viết bằng các bút pháp mang tính văn học. Trong phóng sự có tính nhân vật và cái tôi trần thuật.Phóng sự giúp bạn đọc hiểu sâu hơn, rõ hơn sự việc và chia sẻ được với tác giả những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.

2. Ba đặc trưng chính của phóng sự.

Viết phóng sự phải có nhân vật

Phóng sự là một thể tài của báo chí nhưng lại gần gủi với văn học,thường viết về những vấn đề của xã hội và viết về những con người trong một hoàn cảnh điển hình. Trong một chuần mực nào đó, những nhân vật này đều có số phận, hoàn cảnh riêng.Một bài phóng sự không có nhân vật thì chưa phải là phóng sự, không thể để tác giả nói mà hãy để cho nhân vật được nói.Bạn đọc muốn biết số phận của nhân vật từ câu chuyện và hình ảnh của chính họ.

Có cái tôi trần thuật
 
- Trong phóng sự có cái tôi hay không? Có bao nhiêu thì vừa? Cái tôi làm phóng sự hay lên hay dở đi? Có những dạng tôi nào trong phóng sự? Khi nào thì cái tôi bị người ta ghét? Đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi.

- Sự phát triển cái tôi tác giả trong phóng sự phát triển cùng với lịch sử phát triển của phóng sự.

- Những tác phẩm được gọi là phóng sự thường sử dụng bút pháp tả chân để tạo tính xác thực cho thông tin nhưng những nhà văn làm báo vẫn còn sử dụng những thủ pháp dành riêng cho văn chương để làm báo.

- Từ năm 1986, đất nước ta đi vào công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng… Phóng sự với trọn vẹn tính phóng sự được hình thành từ đây. Cái tôi của tác giả trong phóng sự lúc này cũng được định hình rõ ràng, không chỉ ở mức người trần thuật, chứng kiến. Những phóng sự này không những mang đậm dấu ấn của vấn đề mà còn bày tỏ chính kiến, nêu những kiến nghị, đề xuất những giải pháp. Họ xưng tôi trong phóng sự của mình như một cách khẳng định sự lao động nghiêm túc, đồng thời cũng là sự khẳng định trực tiếp trách nhiệm của cá nhân trong thời buổi xã hội yêu cầu ngày càng cao về trách nhiệm của nhà báo.

- Báo chí mang tính định hướng, nhà báo phải thể hiện rõ ràng lập trường, quan điểm của mình, không được núp dưới bóng hai chữ khách quan mà chỉ nêu vấn đề chung chung.

- Việc xưng tôi chỉ là một hình thức chứ chưa thể là căn cứ vững chãi để xác định cái tôi tác giả trong phóng sự. Thực chất cái tôi tác giả trong phóng sự là sự pha trộn của nhiều cái tôi: cái tôi nhân chứng, cái tôi trần thuật, cái tôi thẩm định và cái tôi cảm xúc. Những cái tôi này không tách bạch riêng rẻ mà xen kẻ một cách hài hòa và uyển chuyển, tạo nên những giá trị cho tác phẩm phóng sự.

- Không có sự tách bạc rạch ròi nào giữa những cái tôi trong một phóng sự mà chỉ có sự nổi trội của yếu tố này hay yếu tố khác trong cái tôi đó. Các yếu tố này luôn kết hợp chặt chẽ với nhau. Nhờ sự kết hợp linh hoạt giữa các yếu tố này mà bức tranh của hiện thực được tái hiện xác thực, sống động, sắc nét, chuyển tải được chủ đề tư tưởng theo góc độ nhìn nhận và quan điểm của người viết, có chiều sâu nội tâm và quan điểm của tác giả.

Có tính văn học
 
- Tính văn học trong phóng sự là cách hành văn. Nhưng còn các thủ pháp văn học cũng phải biết dùng sao cho đúng. Biết tướng thuật khi cần tường thuật, biết miêu tả khi cần miêu tả.

- Sử dụng văn học trong phóng sự là sử dụng ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật sao cho linh hoạt, sinh động, giàu hình ảnh.

- Viết một bài phóng sự cũng cần thiết có những trích dẫn câu nói có trọng lượng của các nhân vật có liên quan, hoặc trích dẫn các số liệu, các câu chuyện, điển tích… miễn là thấy nó phù hợp và có giá trị nâng thêm chất lượng phóng sự.

- Viết phóng sự có một yêu cầu quan trọng là làm cho bạn đọc hiểu rõ hơn, hiểu nhiều hơn về vấn đề bài báo đưa ra. Nhưng quan trọng hơn nữa là tác giả phải truyền đến bạn đọc suy nghĩ, cảm xúc, nhận dịnh của mình để bạn đọc chia sẻ.

3 Kết cấu và bố cục của một bài phóng sự

a) Đi lấy tài liệu:

-Nguyên tắc cơ bản đầu tiên vẫn là chính xác, thời sự và trung thực.

-Để tìm được đề tài cũng như ý tứ, chi tiết… Cách lấy tài liệu hay nhất của phóng sự là quan sát, nắm bắt, ghi chép,rút ra nhận định và kiểm tra nhận định đó. Như nhà thơ Raxun Gamzatop đã nói “Đừng nói cho tôi đề tài. Hãy nói cho tôi đôi mắt!”

-Tài liệu của phóng sự rất chung chung và có thể có nhiều cách để hiểu, nhiều khi đề tài và tư liệu chung chung không ai bị phản đối vì lĩnh vực quá rộng nhưng với những bạn đọc khó tính, họ sẽ tìm ra ngay sự vô lí của nó.

-Tư liệu của phóng sự thường không tự đến mà phải áp dụng tối đa các ngón nghề của người viết: quan sát, hỏi, nghe.Nghe là nguồn tìm tài liệu phong phú nhất.

- Nhặt nhạnh, thu lượm, phải tìm ra những cái riêng, ý riêng,nhận định riêng thì bài viết mới có tính chất riêng để hấp dẫn bạn đọc.

b) Kết cấu:

-Đặt tít tựa, chapeau cho mối bài phóng sự là một nghệ thuật. Bạn đọc cũng thường chú ý những bài học có tít hay, lời dẫn nhập hấp dẫn.Vì thế độc giả cho rằng tít có hay thì đọc mới “đã”.

-Kinh nghiệm là nên đặt tít trước khi viết, vì như thế mới định hướng tập trung vào chủ đề chính, không đi lạc đề.Cũng giống như một bà mẹ đặt tên cho con vậy. Ai cũng muốn có tên hay, tên đẹp, và họ đã suy nghĩ rất nhiều để có một cái tên có ý nghĩa.Cái tên nói lên phần nào nói lên tính cách của con người.Cái tít phần nào nói lên nội dung của bài viết.

c) Bố cục:

Yêu cầu

-Đặt vấn đề, hãy trực tiếp, đừng vòng vo, đi thẳng vào vấn đề,cho bạn đọc biết là tác giả muốn viết gì. Đó là cách viết bao trùm nhất, báo chí nhất.

- Ngắn gọn đó là điều cần thiết nếu như bạn không muốn bạn đọc buông tờ báo xuống.

- Nêu bật được ngay chủ đề của bài mà trong đó có thể có yếu tố thời gian, địa điểm và bản chất của sự việc.

Mở bài:

- Nêu hoàng cảnh dẫn đến bài viết

- Hãy nói trực tiếp ngắn gọn cho bạn đọc biết.

- Cũng có thể viện dẫn một câu nói, ca dao, tục ngữ, câu hát…để đi vào đề.

- Nêu ra một luận cứ, rồi đưa ra các luận chứng để vào bài.

- Từ đó triển khai tiếp các ý, các tài liệu thu nhập được cho bài viết chặt chẽ và sinh động.

Thân bài

-Đối với phóng sự, thân bài chính là trình bày vấn đề, giải quyết vấn đề đã đặt ra ở phần mở bài.

- Những điều quan trọng nhất hãy đưa lên trước và có thể viết theo những cách:

+ Theo trình tự thời gian.

+Theo mô hình tam giác ngược.

+ Theo mô hình viên kim cương.

Với cách viết này người viết dể hiểu, người đọc dễ đọc.Bởi các vấn đề được chia ra thành các vấn đề nhỏ, theo trât tự cái quan trọng được đưa lên trước.

- Kinh nghiệm thể hiện thân bài là chọn lọc chi tiết mà viết, tránh lối kể lể một chiều.Chi tiết chính là thể hiện chữ H một cách đầy đủ.

- Nên xen kẽ các trích dẫn, đối thoại dẫn chứng.

- Lối viết luôn chuyển từ miêu tả, tường thuật đến bình luận và phân tích.

- Cái tôi của tác giả cũng linh hoạt, lúc ẩn,lúc hiện để lấy vấn đề lên cao trào.Luôn nhớ một điều rằng bài viết phải có thông tin và chỉ có thông tin cần và đủ bài viết mới có giá trị.

Kết bài.

- Ngắn gọn

- Rõ ràng

- Nêu lại một lần nữa bản chất của sự việc sau khi đã phân tích, trình bày ở thân bài.

- Kết luận một bài phóng sự không chỉ dừng lại ở đúc kết lại sự việc mà còn kiến nghị giải quyết sự việc đó và nêu ra giải pháp để giải quyết vấn đề.Tác giả có thể nêu ra giải pháp của mình.

- Kết luận là phần phải viết đanh thép, ngắn gọn và gây ấn tượng mạnh cho bạn đọc. Hãy tìm một chi tiết đắt để kết kết luận.Nếu tác giả cảm thấy xúc động vì chính phần kết của mình thì có thể nói kết luận ấy thành công.

Chú ý:

Ngoài ra ảnh còn được coi là một bộ phận không thể thiếu của một bài phóng sự.

-Chúng ta không thể lấy ảnh để minh họa, mà phải là ảnh thực, ảnh chụp trong cuộc, cùng thời gian và địa điểm xảy ra sự kiện đó. Ảnh phóng sự còn góp phần nâng cao giá trị của phóng sự bằng sự xác thực và sinh động.

- Ảnh phóng sự cần phải chứng minh cho bạn đọc thấy rằng tác giả đã có mặt tại chỗ.

-Giúp bạn đọc hình dung ra được quan cảnh xảy ra sự việc và gương mặt của nhân vật mà bài báo đã nói đến.

4. Các tiêu chí để đánh giá một bài phóng sự hay.

Đề tài
 
Ai cũng biết đề tài hay quyết định đến một nữa giá trị của bài báo, điều ấy càng đúng với thể loại phóng sự.

- Đề tài hay là đề tài gắn với những vấn đề thời sự nóng hổi, là một đề tài mà phóng viên phát hiện ra mà mọi người ít biết hoặc chưa biết, là những vấn đề thiết thực trong cuộc sống mà bạn đọc quan tâm.

Đề tài hay còn là đề tài mang tính xây dựng, góp phần tác động hiệu quả đến một thực trạng cần phê phán hay một điều tốt đẹp cần cổ vũ.

Thể hiện hay
 
- Có thể có những đề tài không mới nhưng vẫn được bạn đọc đón nhận bởi cách viết hay, cách nhìn, góc nhìn độc đáo, khác lạ, mang tính phát hiện sáng tạo trong cách thể hiện.

- Người viết chứng tỏ có tay nghề, viết có phong cách ngay từ đầu.Điều này liên quan đến cách sữ dụng ngôn ngữ.

Có hiệu ứng xã hội cao

- Một bài phóng sự khi trả lời được ba câu hỏi:

Viết cho ai?
Viết làm gì?
Viết như thế nào?
 
Mới là một bài phóng sự chặt chẽ về đề tài, phong cách thể hiện và mục đích phản ảnh.

- Khi một bài phóng sự nêu đúng vấn đề hay nói cách khác là “ gãi đúng chỗ ngứa” của bạn đọc là một bài viết có hiệu ứng tốt. Bài gây được tiếng vang, tạo được dư luận góp phần vào việc thay đổi theo hướng tích cực đối với xã hội là những bài viết có giá trị về lẫn hình thức và nội dung. Có thể nói, những giá trị và hiệu ứng tích cực của một bài phóng sự là tập hợp của các yếu tố, đề tài hay và cách thể hiện tốt, nhưng trên hết vẫn là tính vấn đề của đề tài.

Tóm lại: bài phóng sự hội đủ ba yếu tố đề tài hay, thể hiện hay và có hiệu ứng Xã Hội cao… là ước mơ của bất cứ người viết phóng sự nào. Đề tài có mang tính tích cực không là chính là yếu tốt thể hiện nhiều khi vẫn chưa được coi trọng như hai yếu tố đề tài và hiệu ứng.

Nguồn trích dẫn

24 tháng 6, 2013

TÌM HIỂU VỀ CHẾ ĐỘ SHUTDOWN, SLEEP, HIBERNATE CHO LAPTOP


Shutdown, Sleep, Hibernate - Bạn nên chọn chế độ nào cho laptop của mình?

Mỗi chế độ đều có ưu và nhược điểm khác nhau, liệu bạn đã biết cách sử dụng đúng cách?

Sự khác nhau giữa Shutdown, Sleep và Hibernate


- Shutdown: là chế độ tắt máy khá quen thuộc với người sử dụng. Khi bạn lựa chọn Shutdown, toàn bộ các chương trình đang mở sẽ được đóng lại cùng với hệ điều hành. Một máy tính sau khi Shutdown sẽ không tiêu tốn điện năng. Tuy nhiên, nếu bạn muốn quay trở lại làm việc, bạn sẽ phải bật lại máy, chờ hệ thống khởi động, chờ đợi hệ điều hành hoạt động và khởi chạy lại các ứng dụng cần cho công việc.

- Sleep: còn được gọi là chế độ Standby hay chế độ ngủ trưa. Trong chế độ Sleep, máy tính được đưa vào một trạng thái tiêu thụ ít năng lượng hơn bình thường. Nguồn điện chỉ được sử dụng để duy trì bộ nhớ của hệ thống với các ứng dụng và dữ liệu bạn đang làm việc. Trong khi các bộ phận khác của máy tính sẽ được tắt hoàn toàn để tiết kiệm điện năng. Khi bạn bật máy từ chế độ Sleep, hệ thống sẽ nhanh chóng khởi động và các dữ liệu sẽ được lấy từ bộ nhớ trong vòng vài giây. Bạn có thể nhanh chóng quay trở lại công việc mà không cần trờ hệ thống khởi động lại từ đầu.

- Hibernate: còn được gọi là chế độ ngủ đông, là một chế độ ít được biết đến. Hibernate gần giống với chế độ Sleep, tuy nhiên thay vì lưu các dữ liệu vào bộ nhớ RAM, trong chế độ này các dữ liệu của bạn sẽ được lưu vào một tập tin trên ổ cứng. Khi bạn khởi động lại máy từ chế độ Hibernate, cũng giống như chế độ Sleep, hệ điều hành cùng các ứng dụng đang chạy và cac dữ liệu của bạn nhanh chóng được lấy từ ổ cứng và tải vào bộ nhớ RAM để bạn có thể tiếp tục công việc.




Do vậy, nếu so sánh tốc độ khởi động máy từ các chế độ trên, Sleep có tốc độ nhanh nhất sau đó là chế độ Hibernate, do một chế độ lưu dữ liệu trong bộ nhớ RAM và một chế độ lưu dữ liệu trong ổ cứng, và tất nhiên Shutdown có tốc độ khởi động chậm nhất. Tuy nhiên nếu so sánh về mức tiêu thụ điện năng, ta có thể thấy Shutdown tiết kiệm do không sử dụng điện năng, tiếp đến là chế độ Hibernate và Sleep là chế độ tiêu thụ nhiều điện năng nhất. Nếu laptop của bạn đang để chế độ Sleep trong khi pin đang ở mức thấp, máy sẽ tự động chuyển sang chế độ Hibernate để tiết kiệm điện năng.

Khi nào thì sử dụng


Việc sử dụng máy tính tùy thuộc vào nhu cầu và thói quen của người sử dụng. Tuy nhiên có rất ít người tận dụng hết ưu điểm và sự tiện lợi của các chế độ tắt máy trên. Có những người luôn tắt máy tính bằng Shutdown, cũng có những người bật máy 24/7.

- Sleep: Chế độ Sleep hữu ích khi bạn cần rời máy tính trong khoảng thời gian ngắn, ví dụ như khoảng thời gian ngủ trưa. Thay vì để máy vẫn hoạt động, bạn có thể đặt máy ở chế độ Sleep để tiết kiệm điện năng và pin. Sau khi quay trở lại, bạn có thể nhanh chóng tiếp tục công việc, thay vì phải chờ đợi bật máy và thời gian khởi động của hệ thống.

- Hibernate: Chế độ Hibernate tiết kiệm điện năng nhiều hơn Sleep. Bạn nên sử dụng chế độ này khi không sử dụng máy tính trong một khoảng thời gian dài hơn, ví dụ như khi bạn ngủ buổi tối và sáng hôm sau phải tiếp tục công việc trên máy tính.

- Shutdown: Thông thường đây là chế độ thông dụng của người sử dụng desktop, tuy nhiên với những người sử dụng laptop họ thường đặt máy ở chế độ Hibernate, do vẫn tiết kiệm điện năng trong khi có thể nhanh chóng trở lại công việc. Tuy nhiên, đôi khi một vài ứng dụng không hoạt động bình thường khi khởi chạy từ chế độ Hibernate, lúc này bạn sẽ cần Shutdown và khởi động lại máy. Đôi khi những người sử dụng máy tính cũng nên khởi động lại máy để hệ thống hoạt động hiệu quả nhất.




Bạn cũng nên lưu ý một điều rằng, việc khởi động lại máy từ chế độ Shutdown cũng tiêu tốn một lượng điện năng để khởi động hệ thống và hệ điều hành cùng các dữ liệu được lấy ra từ ổ cứng. Do đó khi rời máy tính một khoảng thời gian ngắn, nếu bạn chọn Shutdown có thể tiêu hao điện năng nhiều hơn so với chế độ Sleep.

Thiết lập chế độ của bạn


Khi bạn đã chọn được cho mình các chế độ thường sử dụng, bạn có thể thiết lập các chế độ khi bạn ấn nút nguồn máy tính hoặc khi bạn gập màn hình của laptop lại. Để thay đổi thiết lập này, ấn phím Windows, gõ vào Power Buttons và ấn Enter. Bạn sẽ thấy một cửa sổ của Control Panel với các tùy chỉnh.




Lúc này bạn có thể tùy chọn các chế độ Shutdown, Sleep hay Hibernate mỗi khi ấn nút nguồn của máy hoặc khi gập màn hình của laptop, trong hai trường hợp là sử dụng pin và đang được cắm với nguồn điện.

Tham khảo: howtogeek

TỰ TẠO THEME CÁ NHÂN CHO GOOGLE CHROME

Plugin miễn phí từ google có tên là Chrome Theme có thể giúp bạn tạo nên một Chrome hoàn hảo hơn cho chính bản thân mình. 

Chương trình này sẽ giúp bạn tải hình cảnh cả nhân, tạo màu sắc riêng hoặc chia sẻ theme của mình cho bất cứ ai. Không cần phức tạp, tìm hiểu lâu và nhiều bước phức tạp như các chương trình khác, Chrome Theme đem tới sự thuận tiện và nhanh chóng tuyệt vời, sẽ làm thỏa mãn nhu cầu sáng tạo theme của bạn.

Đầu tiên bạn hãy chọn một hình ảnh yêu thích trên trang web hoặc ổ cứng nhà bạn. Sau khi đã tìm thấy, Tiếp theo hãy mở Chrome Theme và hãy thêm hình.








Hoặc nếu thích thì bạn không nhất thiết phải sử dụng hình ảnh có sẵn, bạn hoàn toàn có thể sử dụng webcam để có ảnh. Thêm ảnh của bạn vào và tiếp tục bước 2, chọn 3 màu sắc tạo theme cho Chrome của bạn.








Một bảng màu hiện ra tha hồ để bạn chọn lựa. Tất nhiên chỉ hạn chế trong một số màu sắc nhưng có lẽ cũng không quá khó để bạn tìm ra một màu phù hợp với ảnh của mình.

Lời khuyên dành cho bạn là màu tối sẽ phù hợp cho cửa sổ tab hơn, nhưng tất cả đều là sự lựa chọn của bạn. Nhấp chuột để đến với bước tiếp theo, xem trước và cài đặt theme.









Bạn cũng sẽ có một đường link để có thể chia sẻ thành quả của mình với bạn bè. Và đây, có thể thành quả của bạn sẽ độc đáo như thế này. Hẳn với sự sáng tạo của mình thì bạn sẽ có tạo ra nhiều theme độc đáo hơn cho Chrome.



.





Bất cứ lúc nào bạn cũng có thể mở Plugin lên để lấy links, cài đặt hoặc xóa theme tại trang web.









Nếu muốn bạn có thể tạo những bộ sưu tập theo mùa, theo chủ đề … trình duyệt của bạn sẽ trở nên thực sự phong phú.

Bạn có thể tải ứng dụng tại đây.

Tham khảo: makeuseof

BCC VÀ CC TRONG GMAIL LÀ GÌ?


Hai tính năng ít được sử dụng đến khi gửi email.

Trong các ứng dụng email, các bạn có thể dễ dàng nhận thấy hai dòng CC và BCC ngay dưới dòng địa chỉ người nhận. Nhiều người không sử dụng hai tính năng này vì họ không biết tác dụng của chúng. Thực chất hai tính năng này có công dụng gần giống nhau, đều là gửi thêm các bản sao email cho một vài người khác. Tuy nhiên bạn cũng có thể làm điều tương tự bằng cách thêm các địa chỉ mới trong khung địa chỉ người nhận. Vậy tác dụng thực sự của hai tính năng này là gì và chúng có những điểm khác nhau nào, chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây.




CC và BCC


CC là viết tắt của cụm từ 'carbon copy', còn BCClà viết tắt của cụm từ 'blind carbon copy', có thể tạm hiều là các bản sao tạm. Từ carbon copy được bắt nguồn từ việc sử dụng một loại giấy than để tạo ra các bản sao khi viết tay. Do đó, CC được hiểu như việc gửi thêm một bản sao của email cho một số người khác.




Trong danh sách những người được gửi CC của cùng một email, họ có thể nhìn thấy danh sách và những người nhận khác. Tức là nếu bạn gửi CC cho A1@xyz.com, A2@xyz.com thì người A1 sẽ biết được rằng người A2 cũng nhận được email đó và ngược lại.

Còn đối với kiểu gửi BCC, cũng tương tự như trên, bạn sẽ gửi một bản copy của email đó cho một danh sách các người nhận khác. Tuy nhiên những người trong danh sách này sẽ không thể nhìn thấy những người khác, có nghĩa là họ không được biết rằng có những ai khác cũng nhận được email đó. Những người được gửi bản chính và cách gửi CC cũng sẽ không thể thấy danh sách những người được gửi theo kiểu BCC.

So với cách gửi thông thường


Về lý thuyết thì cách gửi thông thường sử dụng cho những người nhận email của bạn. Còn kiểu gửi CC để gửi một bản sao cho những người quan tâm đến thông tin của email đó, hoặc cần biết rằng bạn đã gửi email đó đến những ai.

Tuy nhiên, thực tế thì CC và cách gửi thông thường khá giống nhau. Nếu bạn cần gửi một email cho bốn người, bạn có thể điền cả 4 địa chỉ vào dòng địa chỉ gửi (To), hoặc bạn cũng có thể chỉ điền một địa chỉ còn 3 địa chỉ còn lại điền trong dòng CC. Cả bốn người đều sẽ nhận được email đó và đều nhìn thấy danh sách những người được gửi.




Trong một trường hợp nếu sếp của bạn muốn bạn gửi email cho khách hàng và yêu cầu bạn xác nhận lại khi đã gửi xong email. Bạn có thể đặt địa chỉ của khách hàng trong dòng To với cách gửi thông thường và đặt địa chỉ email của sếp trong dòng CC, do đó sếp của bạn sẽ nhận được bản sao của email và biết được email đã được gửi đến khách hàng nào. Tuy nhiên nếu bạn không muốn khách hàng nhìn thấy email của sếp (vì điều này là không cần thiết), hoặc bạn không muốn các khách hàng biết được danh sách những người khác cũng nhận được email đó, bạn sẽ phải sử dụng đến kiểu gửi BCC.

Khi nào thì sử dụng CC và BCC


CC là kiểu gửi hữu ích khi bạn muốn một vài người khác nhận được bản sao của email, nhưng họ không phải người nhận chính.

BCC là kiểu gửi hữu ích khi bạn muốn gửi các bản copy đến những người khác, và không muốn họ biết về việc bạn gửi thêm các bản copy cho người khác, giống như ví dụ ở trên. Ngoài ra nếu bạn cần gửi cùng một email đến danh sách rất nhiều địa chỉ, bạn sẽ không muốn những người nhận email đó phải xem một hàng dài các địa chỉ cùng được gửi, do đó kiểu gửi BBC sẽ hạn chế thông tin không cần thiết này.




Tạm kết


CC và BCC thực chất đều gửi một bản copy của email cho một số người khác. Những địa chỉ được ghi trong dòng CC thực chất không khác với việc bạn điền các địa chỉ trong dòng To (cách gửi thông thường). Còn đối với các địa chỉ được điền trong dòng BCC, đều sẽ được ẩn danh nghĩa là không ai biết được họ đã nhận được bản copy của email đó. Hai tính năng này hiện nay đã bị nhiều người sử dụng lãng quên, tuy nhiên trong nhiều trường hợp chúng vẫn tỏ ra khá hữu ích. Hy vọng bài viết đã giúp bạn phần nào hiểu và nắm được cách sử dụng hai tính năng này khi gửi email.

Tham khảo: howtogeek